Triển vọng ngành Ngân hàng 2026
06/03/2026
Tổng kết 2025: một năm với nhiều kỷ lục
Ngành ngân hàng bước vào năm 2025 với kỳ vọng tăng trưởng khả quan nhờ các xu hướng kinh tế vĩ mô trong nước. Nền kinh tế và thị trường BĐS dần phục hồi cùng với môi trường chính sách thuận lợi trong năm đã hỗ trợ đáng kể tăng trưởng cho ngành. Chất lượng tài sản là điểm sáng khi ghi nhận cải thiện mạnh mẽ ở hầu hết ngân hàng. Tuy nhiên, việc giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ nền kinh tế cùng với áp lực thanh khoản gia tăng nửa cuối năm đã tạo sức ép lớn khiến biên lãi ròng NIM của các ngân hàng giảm về mức thấp lịch sử. Tuy vậy, nhờ quy mô tín dụng mở rộng mạnh và thu nhập ngoài lãi phục hồi, toàn ngành vẫn khép lại năm 2025 với mức tăng trưởng LNTT tích cực, tăng 18,9% svck.
- Các ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng bán lẻ cải thiện tốt chủ yếu được dẫn dắt bởi mảng cho vay mua nhà tăng mạnh. Hầu hết các ngân hàng tiếp tục dịch chuyển trọng tâm sang phân khúc khách hàng doanh nghiệp – đặc biệt là mảng doanh nghiệp lớn và FDI – để thúc đẩy tăng trưởng trong năm 2025.
- Chất lượng tài sản toàn ngành ghi nhận sự cải thiện rõ rệt trong năm 2025 khi tỷ lệ nợ xấu duy trì xu hướng giảm trong 3 quý liên tiếp, xuống còn 1,85% vào cuối năm. Tỷ lệ nợ xấu & nợ nhóm 2 đã giảm đáng kể so với mức đỉnh năm 2023, sau khi xảy ra sự kiện SCB và khủng hoảng TPDN vào cuối năm 2022, và hiện tiệm cận mặt bằng của giai đoạn 2021 trở về trước. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu LLR cũng giảm xuống còn 84% (so với 91% cuối năm 2024), phản ánh mức trích lập dự phòng thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu. Điều này có thể làm gia tăng sức ép lên lợi nhuận các ngân hàng trong tương lai nếu xu hướng hình thành nợ xấu mới tiếp tục gia tăng.
- Kết thúc năm 2025, biên lãi thuần (NIM) toàn ngành giảm về quanh 3,1% (từ mức 3,4% của quý 4/2024) – là mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Tính đến cuối năm 2025, lợi suất tài sản giảm 21 điểm cơ bản, trong khi chi phí vốn tăng 11 điểm cơ bản so với cuối năm 2024. Nhìn tổng thể, diễn biến NIM trong giai đoạn hiện nay cho thấy việc tối ưu hóa LDR để bảo vệ NIM có thể đã đi đến giới hạn.
- Thu nhập từ phí dịch vụ tăng 12% svck trong năm 2025, đánh dấu sự phục hồi trở lại sau khi ghi nhận mức tăng trưởng âm trong hai năm 2023 và 2024. Động lực tăng trưởng chính của thu nhập ngoài lãi toàn ngành đến từ thu nhập từ thu hồi nợ xấu đã xử lý. Thu nhập từ hoạt động khác – chủ yếu là thu hồi nợ xấu đã xóa – đạt hơn 58 nghìn tỷ đồng, tăng mạnh 66% svck và đóng góp khoảng 34% tổng thu nhập ngoài lãi toàn ngành. Mức tăng này xuất hiện ở hầu hết các ngân hàng, phản ánh kết quả tích cực của quá trình thu hồi nợ xấu của toàn ngành.
Triển vọng 2026: Tích cực vừa phải
Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục hưởng lợi từ mục tiêu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Chính phủ, song đi kèm với không ít thách thức. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng mạnh và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với áp lực thanh khoản gia tăng, NIM vẫn chịu sức ép và rủi ro chất lượng tài sản cần được theo dõi chặt chẽ hơn trong bối cảnh lãi suất trong nước bước vào xu hướng tăng trở lại, trong khi môi trường vĩ mô toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều bất định. Nhìn chung, chúng tôi có quan điểm tích cực vừa phải đối với triển vọng ngành ngân hàng trong năm 2026 và dự báo tăng trưởng LNTT của toàn ngành đạt 16% svck.
Room tín dụng vượt trội trở thành lợi thế cạnh tranh
- Mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 được NHNN đưa ra đầu năm vào khoảng 15% (thấp hơn tốc độ tăng thực tế năm 2025 là 19,1%, nhưng tương đương mục tiêu đề ra đầu năm 2022 – 2024). Đáng chú ý, các giới hạn điều hành mới được áp dụng bao gồm kiểm soát tốc độ tăng tín dụng theo quý và yêu cầu tăng trưởng tín dụng lĩnh vực bất động sản không vượt quá tăng trưởng tín dụng chung của từng ngân hàng.
- Chúng tôi cho rằng tín dụng bất động sản trong năm 2026 sẽ bước vào giai đoạn hạ nhiệt và tăng trưởng có chọn lọc, thay vì duy trì tăng mạnh như năm 2025. Tuy vậy, bất động sản vẫn là lĩnh vực đóng góp đáng kể vào tăng trưởng dư nợ của hệ thống ngân hàng. Do đó, các động thái điều hành tiếp theo của NHNN đối với lĩnh vực này cần tiếp tục được theo dõi, trước tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn ngành.
- Sự phân hóa trong hạn mức tín dụng giữa các ngân hàng ngày càng rõ nét trước định hướng điều hành thận trọng của NHNN. Nhóm ngân hàng tham gia tái cấu trúc các tổ chức tín dụng yếu kém tiếp tục được nhận hạn mức tín dụng vượt trội, trong khi phần lớn các NHTM khác có room tín dụng hạn chế hơn (khoảng 11-13%) vào đầu năm. Theo quan điểm của chúng tôi, trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn ở mức cao, room tín dụng có thể được coi như một “nguồn tài nguyên” trong năm 2026, đặc biệt là đối với tín dụng bất động sản – lĩnh vực đang được kiểm soát chặt chẽ hơn. Nhu cầu vốn sẽ có xu hướng dồn về nhóm ngân hàng có hạn mức tín dụng vượt trội.
NIM tiếp tục chịu áp lực
- Việc tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ (+19,1%), cao hơn 5% so với tăng trưởng huy động vốn (+14,1%), là nguyên nhân chính tạo áp lực rõ rệt lên thanh khoản hệ thống trong năm 2025. Tỷ lệ LDR toàn ngành đạt mức cao kỷ lục vào cuối Q3.2025 (110%).
- Bên cạnh yếu tố chênh lệch về quy mô, cấu trúc kỳ hạn tín dụng cũng tạo áp lực lên nhu cầu vốn. Trong năm 2025, các ngân hàng có xu hướng tái cơ cấu tài sản theo hướng cho vay ở kỳ hạn dài hơn, nhằm cải thiện lợi suất đầu ra & hỗ trợ NIM trong bối cảnh NIM chịu áp lực thu hẹp. Diễn biến này khiến tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại nhiều ngân hàng gia tăng, qua đó cũng làm gia tăng nhu cầu huy động vốn.
- Thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của NHNN và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc nhà nước tại các NHTM quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối Quý 4/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên duy trì trên 200 nghìn tỷ đồng. Tuy vậy, lãi suất LNH vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu.
- Tổng hợp các yếu tố trên, chúng tôi dự báo NIM toàn ngành tiếp tục suy giảm nhẹ về quanh 3,0% vào cuối năm 2026, song có sự phân hóa giữa các ngân hàng. Nhóm ngân hàng sở hữu tỷ lệ CASA cao, lợi thế về chi phí vốn và năng lực quản trị rủi ro tốt có thể sớm ổn định NIM nhờ khả năng chống chịu tốt hơn trước biến động lãi suất. Ngược lại, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào huy động thị trường với chi phí vốn cao có thể tiếp tục đối mặt với áp lực NIM kéo dài.
Tải báo cáo
Liên hệ ngay
Hãy để chuyên viên tư vấn của chúng tôi hỗ trợ bạn
Bằng cách đăng ký, bạn đồng ý với Chính sách quyền riêng tư của chúng tôi.
Tìm hiểu thêm các giải pháp
Khám phá ngayBài viết liên quan
Xem tất cả
Cập nhật ngành Ngân hàng Quý 3/2025: Duy trì quỹ đạo tăng trưởng Tín dụng tiếp tục tăng tốc trong Q3 – đạt mức cao nhất trong vòng 15 năm qua Tín dụng toàn hệ thống tăng 3,5% so với quý trước trong Quý 3/2025. Lũy kế 9 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng
Triển vọng thị trường năm 2025 Những điểm nhấn từ Kế hoạch kinh doanh 2025 của các ngân hàng Các ngân hàng thương mại đã công bố KHKD tại ĐHĐCĐ năm 2025, với nhóm NHTMCP quy mô nhỏ đặt mục tiêu LNTT cao nhất (tăng 106% svck, trừ NVB), NHTMCP quy mô vừa (tăng 20%
Đăng ký nhận bản tin
Đăng ký nhận tin cập nhật mới.